Gấc nếp
Tên tiếng Việt: Gấc nếp, Gấc, Mộc miết tử
Tên khoa học: Momordica cochinchinensis (Lour.) Spreng.
Họ: Cucurbitaceae (Bầu bí)
Công dụng: Hạt mài với nước chữa bệnh quai bị. Dầu gấc làm thuốc bồi bổ cơ thể, chữa bệnh khô mắt, bôi các vết thương, vết bỏng, chỗ lở loét, làm nhanh lên da non, làm liền sẹo. Dầu hạt chữa mụn nhọt,..
Mô tả cây
- Dây leo to, sống lâu năm, có rễ mập. Thân cứng nhẵn, có cạnh và khía.
- Lá mọc so le, có 3-5 thuỳ màu lục sẫm, gốc hình tim, lúc đầu có lông ở mặt trên, sau nhẵn; gân 5 hình chân vịt, mép lá nguyên hoặc có răng thưa không đều; cuống lá dài 2-3 cm, có tuyến ở phần giáp với gốc lá; tua cuốn to, đơn.
- Hoa đực và hoa cái riêng trên cùng một cây; hoa đực mọc ở kẽ lá, lá bắc hình thận to và rộng; đài có ống ngắn, các thùy hình tam giác nhọn, màu lam sẫm; tràng 5 cánh, màu trắng hoặc ngà vàng, hình trứng thuôn, có lông dày ở mặt trong; nhị 5; hoa cái có lá bắc nhỏ, bầu xù xì.
- Quả hình bầu dục hoặc hình trứng, có cuống mập, đầu tù hoặc hơi nhọn, dài 12-17cm, mặt ngoài có rất nhiều gai nhọn, khi chín màu đỏ; hạt dẹt, màu đen hoặc xám đen, vỏ ngoài rất cứng có răng tù ở mép, dày 5-6 mm. Mùa hoa quả tháng 7 – 12.
Theo kinh nghiệm của nhân dân ở một vùng thuộc tỉnh Hải Hưng, gấc có loại tẻ và loại nếp được phân biệt như sau:
- Gấc tẻ: tên khác là gấc giun (Hưng Yên), ruột màu đỏ, ăn không ngấy (màu này nhạt đi khi đồ chín), quả to, rất sai, gai quả dày và có nhiều hạt.
- Gấc nếp: tên khác là gấc gạch, ruột màu vàng, quả nhỏ, cây ít quả, gai quả thưa, ít hạt.
-
Bộ phận dùng
Hạt đã bóc bỏ áo hạt, phơi hay sấy khô. Hạt màu nâu đen, dẹt, mép có răng cưa tù và rộng, đường kính 2 – 3,3cm, dày 0,5 – 1cm. Vỏ cứng rắn, bên mép răng cưa có một vết nhỏ màu đỏ. Vỏ hạt đập vỡ sẽ thấy bên trong nhân hạt màu trắng ngà.
Dầu gấc được ép từ màng hạt đã phơi hoặc sấy khô (Dược điển Việt Nam 1, tập 1). Rễ thu hái vào mùa đông, rửa sạch và phơi khô.
Thành phần hóa học
Theo Stephen và các cộng sự (2002), thành phần dinh dưỡng chính trong quả gấc gồm: ß-carotene (175 µg/g thịt quả), lycopene (802 µg/g thịt quả), tổng carotenoids (977 µg/g thịt quả), lipid (102 µg/g thịt quả), hàm lượng nước của thịt quả (78% khối lượng).
Theo Le Thuy Vuong (2003), gấc có hàm lượng ß-carotene cao nhất trong tất cả các loại trái cây với nồng độ 35,5 mg/100 g thịt quả.
- Thịt quả gấc chứa nhiều acid béo (đa số là các acid béo chưa no) như: oleic acid, palmitic acid, linoleic acid. Ngoài ra, phần thịt quả còn chứa nhiều dưỡng chất khác như: lycopene, zeaxanthin, ß-cryptoxanthin. Trong đó, hàm lượng lycopene đạt đến 380 µg/g thịt quả, cao gấp 76 lần khoai tây.
- Trong quả gấc có dầu gấc.
- Màng đỏ bao quanh hạt (áo hạt) của quả gấc chứa đựng một lượng dầu gấc màu đỏ sẫm, chất sánh có mùi vị thơm đặc biệt, 100g dầu gấc có 150-175 mg β-carotene, 4 g lycopene và 12 g α-tocopherol (vitamin E thiên nhiên), 33,4% palmitic acid, 7,9% stearic acid. Đặc biệt là 44% oleic acid và 14,7% linoleic acid là hai loại acid béo rất cần thiết cho cơ thể.
- Dầu gấc còn chứa các nguyên tố vi lượng cần thiết cho cơ thể như: Sắt, Đồng, Colbalt, Kali, và Kẽm,… Hàm lượng vitamin A trong dầu gấc cao gấp 1,8 lần so với dầu gan cá thu, gấp 15 lần so với củ cà rốt và gấp 68 lần so với quả cà chua (Trần Công Khánh, 2004) (theo báo Phụ nữ Việt Nam số 66 ra ngày 03/06/2005).
Theo Vũ Nguyên Khiết (2004) trong tạp chí Sức Khoẻ và Đời Sống số 258 (15/01/2004) 1ml dầu gấc có 30 mg carotene tương ứng với 50.000 đơn vị quốc tế vitamin A, cao hơn so với gan cá thu (1 ml dầu cá chứa 1.000 đơn vị vtamin A).
Trong nhân hạt gấc chứa 2,61% protein, 55,3% lipid, 2,9% đường, 1,8% tannin, 2,8% cellulose. Trong lá gấc có chứa vitamin E. Trong rễ gấc chứa một số saponin triterpenoid: monordin I, monordin II, monordin III, monordin Ia, monordin Ib, monordin Ic, monordin Id, monordin Ie, monordin IIa, monordin IIb, monordin IIc, monordin IId, monordin IIe. Trong thân củ gấc chứa chondrilasterol (Hasan Choudhury M. và ctv., 1987), momorcochin (Yeung H.W và ctv., 1987), cucurbitadienol, một glucoprotein và hai glycosid (trích dẫn bởi Đỗ Tất Lợi, 2003).
Tác dụng dược lý
Dầu gấc có hàm lượng beta-caroten rất cao. Beta-caroten là tiền vitamin A, có hàm lượng cao nhất trong dầu Gấc và được coi như sự thay thế hoàn hảo vai trò của Vitamin A trong cơ thể về tác dụng trên mắt và tăng cường sức khỏe. Beta-caroten là một tiền chất của Vitamin A được cơ thể hấp thu và dự trữ tại gan. Khi cơ thể thiếu hụt vitamin A, beta-caroten được gan chuyển hóa thành vitamin A bổ sung cho cơ thể. Việc dự trữ hàm lượng cao beta-caroten không làm ảnh hưởng đến gan, beta-caroten chỉ chuyển hóa thành vitamin A khi cơ thể thực sự cần thiết vì vậy không gây ra việc ngộ độc hay quá liều beta-caroten. dưới tác dụng của men carotenaza có trong gan và thành ruột, một phân tử beta-caroten được chuyển thành 2 phân tử vitamin A, nhưng trên thực tế, hiệu suất lý thuyết đó không bao giờ đạt được trong cơ thể sinh vật. Do đó, liều dùng của beta-caroten thường gấp đôi liều dùng vitamin A. Vitamin A rất cần cho cơ thể, có ảnh hưởng tới sự chuyển hóa lipid, nguyên tố vi lượng và phosphor; nó duy trì sự hoàn chỉnh của tổ chức biểu mô như da và niêm mạc, với sự có mặt của vitamin A, các tế bào biểu mô được kích thích để sản sinh ra chất nhầy và nếu thiếu vitamin A, các tế bào biểu mô này sẽ teo đi thay vào đó là các tế bào sừng hóa, điển hình là bệnh khô mắt, tế bào giác mạc bị sừng hóa làm mất độ trong suốt của giác mạc dẫn tới mù lòa.
Trong phạm vi thị giác, vai trò của vitamin A đã được xác định rõ, nó tham gia vào sự hình thành chất rhodopsin, một chất nhạy cảm với ánh sáng, tồn tại trong các que võng mạc giữ vai trò quan trọng trong thị giác lúc hoàng hôn; nếu chế độ ăn uống thiếu vitamin A, thì nồng độ chất này ở võng mạc sẽ giảm xuống, các que võng mạc có biến đổi về hình dạng dẫn tới những rối loạn về thị giác nhất là lúc hoàng hôn như trong bệnh quáng gà. Vitamin A còn là một yếu tố cần cho sự sinh trưởng. Những phụ nữ có thai và trẻ sơ sinh có nhu cầu vitamin A lớn hơn người thường. Vitamin A có tác dụng tăng sức đề kháng của cơ thể, chống nhiễm khuẩn ở mọi lứa tuổi, đặc biệt trẻ em và trong bệnh lao phổi. Vitamin A và dầu gấc có tác dụng làm lành các vết thương, vết bỏng và các ổ loét. Viện Quân y 108 đã phối hợp với Bộ môn Di truyền Trường đại học Tổng hợp Hà Nội tiến hành xác định tác dụng của dầu gấc lên men thuộc chủng Moromer (Mỹ) nhạy cảm với tia xạ. So với đối chứng, dầu gấc có khả năng phục hồi rõ rệt và làm bền vững các nấm men đã bị nhiễm xạ.
Năm 1990, Hà Văn Mạo, Đinh Ngọc Lâm và cộng sự đã có nhận xét về Gacavit (chế phẩm dầu gấc) được thực nghiệm trên súc vật thí nghiệm và trên người bệnh, có khả năng sửa chữa những rối loạn của nhiễm sắc thể, các khuyết tật của phôi thai do dioxin gây nên trên động vật thí nghiệm và khả năng phòng ngừa ung thư cho những người bị bệnh xơ gan. Như vậy chắc chắn các chế phẩm dầu gấc rất có ích cho những người tiếp xúc nhiều với các tia xạ độc hại, các hóa chất độc và những người viêm gan virus B.
Dịch ngâm cồn – nước của hạt gấc thí nghiệm trên chó, mèo và thỏ gây mê đều có tác dụng hạ huyết áp, nhưng do độc tính quá lớn nên dù tiêm tĩnh mạch hay bắp thịt thì sau khi tiêm vài ngày súc vật đều chết.
Saponin từ hạt gấc tiêm tĩnh mạch cho chuột cống trắng làm hạ huyết áp trong một thời gian ngắn, kích thích hô hấp và tăng nhanh nhịp tim. Nếu tiêm vào động mạch đùi của chó thì lưu lượng máu ở chi dưới tăng nhanh trong một thời gian ngắn, hiệu lực bằng khoảng 1/8 hiệu lực của papaverin. Đối với tim ếch cô lập và tá tràng cô lập thỏ, saponin có tác dụng ức chế, nhưng với nồng độ cao lại gây co thắt, không thể hồi phục được. Cho chuột cống trắng uống hoặc tiêm dưới da saponin có tác dụng ức chế phù bàn chân chuột do carragenin gây nên. Đối với hồng cầu thỏ, saponin làm tan móng (dung huyết). Trên chuột nhắt trắng, LD50 của saponin từ hạt gấc bằng đường tiêm tĩnh mạch là 32,3mg/kg và bằng đường tiêm phúc mạc là 37,3mg/kg.
Hai glucosid chiết tách từ rễ gấc đã được chứng minh với liều 25mg/kg có tác dụng hạ đường huyết trên những chuột cống trắng bị bệnh đái đường thực nghiệm do Streptozotocin gây nên. Chất momorcochin, một glycoprotein từ thân củ gấc tươi có tác dụng gây sẩy thai.
Tính vị, công năng
- Dầu gấc có vị ngọt, tính bình, có tác dụng bổ tỳ vị, làm sáng mắt.
- Hạt gấc chỉ mới thấy dùng trong phạm vi kinh nghiệm dân gian, chưa có cơ sở nghiên cứu khoa học. Theo sách cổ, hạt gấc có vị đắng, hơi ngọt, tính ôn, hơi có độc, vào 2 kinh can và đại tràng. Hạt gấc dùng trong có tác dụng tiêu tích, lợi trường, tiêu thũng, sinh cơ; dùng ngoài có tác dụng tiêu sưng.
- Rễ gấc vị đắng, tính mát, có tác dụng trừ thấp nhiệt, hoạt huyết, lợi tiểu.
Công dụng
Dầu gấc được dùng trong các trường hợp cơ thể cần vitamin A như trẻ em chậm lớn, phụ nữ mang thai, cho con bú, bệnh khô mắt, quáng gà, người kém ăn, mệt mỏi. Ở Anh, một số chuyên gia đã dùng vitamin A liều cao để chữa ung thư, tuy có đạt kết quả nhưng ở liều cao dễ có biến chứng, nên trong vòng 10 năm nay, người ta đã chuyển sang dùng beta-caroten. Dầu gấc dùng ngoài bôi vào vết thương, vết bỏng làm mau lên da non, chóng lành. Dầu gấc dùng kèm với một số thuốc kháng khuẩn đặc hiệu chữa bệnh trứng cá. Dầu gấc có tác dụng nhuận tràng, trị táo bón. Liều dùng: người lớn mỗi ngày 10-20 giọt, chia làm 2 lần uống trước 2 bữa ăn chính, trẻ em 5-10 giọt/ngày.
Nhu cầu về vitamin A đối với người lớn vào khoản 1 – 3mg/ngày. Trong chế độ ăn bình thường, nhu cầu này được thức ăn mang lại đầy đủ, chỉ có những lúc đói kém thì vitamin A được đưa vào từ thức ăn bị thiếu hụt nên cần được bổ sung thêm. Ở Việt Nam, ta thường ăn nhiều rau quả, trong đó có hàm lượng caroten khá đủ, nhưng lại có nhiều người vẫn bị hội chứng thiếu vitamin A. Để giải thích điều này, có tác giả cho rằng có thể trong khẩu phần của ta thường quá ít dầu mỡ mà beta-caroten muốn được cơ thể hấp thu phải có một lượng dầu mỡ nhất định. Beta-caroten trong gấc lại tan sẵn trong dầu nên cơ thể dễ hấp thu, là một thuận lợi lớn mà chúng ta cần khai thác tối đa.
Hạt gấc được dùng ngoài, theo kinh nghiệm dân gian, chữa mụn nhọt, tràng nhạc, quai bị, sưng vú, tắc tia sữa, trĩ, lòi dom. Có nơi còn dùng hạt gấc chữa sốt rét có báng.
- Chữa mụn nhọt, ghẻ lở: dùng nhân hạt gấc, mài với nước bôi. Chữa sưng vú: nhân hạt gấc giã với một ít rượu 30 độ, đắp lên chỗ sưng đau.
- Chữa trĩ, lòi dom: hạt gấc giã nát, thêm một ít giấm thanh, gói bằng một miếng vải, đắp để suốt đêm. Khi dùng trong phải cẩn thận, mỗi ngày 1-2g.
Rễ gấc chữa tê thấp, sưng chân, phù với liều dùng 4g/ngày.
Gốc dây gấc, phối hợp với đơn gối hạc, mộc thông, tì giải mỗi vị 15g, sắc nước uống hoặc dùng ngoài ngâm rượu xoa bóp cũng chữa phong thấp, sưng chân.
Xem thêm: [Video] Vì sao dầu gấc được nhiều người sử dụng













